Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa tên thật Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 trong một gia đình nhà giáo nghèo tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Mồ côi cha lúc 06 tuổi, ông được mẹ và chị gái tần tảo nuôi dưỡng cho ăn học. Giữa năm 1933, Phạm Quang Lễ đã thi đỗ đầu hai bằng tú tài: Tú tài Việt và Tú tài Tây, nhưng vì nhà nghèo không có tiền đi Hà Nội để học tiếp, Phạm Quang Lễ quyết định đi làm giúp mẹ, giúp chị và nuôi chí vươn lên chờ thời cơ.
Năm 1935, ông đi du học Pháp và tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân toán học tại các trường Đại học Bách khoa Paris, Đại học Mỏ, Đại học Điện, Đại học Sorbonne, Đại học Cầu đường Paris.
Trong hàng nghìn người Việt Nam sang Pháp du học thời bấy giờ, ông là người duy nhất có quyết tâm nghiên cứu về vũ khí. Đây là lĩnh vực bí mật và tuyệt đối cấm đối với người dân thuộc địa, chỉ cần lộ ra ý định này ông sẽ bị trục xuất ngay khỏi nước Pháp. Vì vậy trong 11 năm ở Pháp, ông chỉ có thể tự mò mẫm và bí mật học hỏi, sưu tầm tài liệu về các loại vũ khí ở các thư viện.
Ở thư viện trung bình ông phải đọc lướt qua chừng 20.000 đầu sách mới chọn được một cuốn có liên quan đến vũ khí. Trong số hơn một triệu tên sách ở thư viện, chỉ chọn ra được 50 cuốn mình cần!
Ở Pháp, ngoài các thư viện công cộng dùng cho mọi người còn có những tủ sách dành riêng cho các giáo sư, trong đó có nhiều tài liệu quý hiếm, bí mật. Ông Lễ đã tìm mọi cách để khai thác tài liệu, lân la làm quen với người thủ thư, để cứ mỗi sáng thứ 6, ông viết những cuốn sách muốn mượn đưa cho người thủ thư, chiều đến nhận sách và trong 02 ngày phải đọc xong, sáng thứ hai phải trả lại thư viện để không bị phát hiện.
Có lần ông hỏi mượn các tài liệu nói về phương pháp gia công các ống thép chịu áp lực cao. Ông nói là để học cách chế tạo các đường ống cống ngầm. Vì đã quen ông, người thủ thư thật thà trả lời: “Ở thư viện này không thấy có những cuốn sách nào đề cập đến những vấn đề đó. Nhưng ông có thể coi những cuốn sách nói về phương pháp gia công nòng đại bác. Những cuốn đó may ra cũng có ích cho ông” Người thủ thư còn giải thích thêm: “Nòng đại bác cũng là những ống thép chịu áp lực cao”. Từ đó trở đi, người thủ thư cho ông mượn bất cứ cuốn sách nào nói về gia công nòng đại bác mà ông yêu cầu. Do có cảm tình đặc biệt với người sinh viên Việt Nam chăm chỉ, cần mẫn, khiêm tốn, lễ độ, người thủ thư đã cho ông (người bạn đọc duy nhất) mượn đem về nhà cả những cuốn sách “không được phép mang ra khỏi thư viện” để đọc trong ngày chủ nhật. Ông luôn luôn giữ đúng hẹn với người thủ thư, đem trả lại sách vào sáng sớm thứ hai, trước giờ thư viện mở cửa.
Đến mùa thi tốt nghiệp đại học, ông tích cực đầu tư thời gian ôn thi tốt nghiệp cả ba trường đại học: Trường Quốc Gia Cầu Đường, trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Điện, và ngành toán ở trường đại học Sorbonne. Thời gian này, ông đã sử dụng giờ ôn luyện ở nhà và giờ tra cứu thêm ở thư viện gần như bằng nhau. Một lần, sau khi đã tập trung đọc hàng giờ ở thư viện, ông bước ra ngoài thì được người thủ thư gọi lại: “Đang thời kỳ ôn thi, biết anh phải thi ở cả ba trường. Đây là điều cực kỳ khó khăn cho anh. Nếu anh cần tài liệu gì mang về, cứ đề nghị. Tôi sẵn sàng áp dụng cái điều ngoại lệ đã từng áp dụng với riêng anh trước đây”.
Cả ngày chủ nhật ông đóng chặt cửa buồng đọc nghiến ngấu tài liệu, có cuốn dày tới bốn năm trăm trang. Thời đó chưa có các phương tiện sao chép, mà máy ảnh ông cũng không có. Nhiều khi ông đã phải thức trắng đêm đọc sách để kịp sáng hôm sau đem sách đi trả. Khó khăn như vậy nhưng cuối cùng, sau 11 năm tìm kiếm, ông đã thu thập hơn 30.000 trang tài liệu về vũ khí và thuốc nổ, phần lớn là các tài liệu mật.
Năm 1942, để thực hành những gì mình đã học, Phạm Quang Lễ sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay Halle ở miền Trung nước Đức và Viện nghiên cứu vũ khí. Kỹ thuật hàng không của Đức lúc bây giờ là tiến bộ nhất châu Âu. Là kỹ sư thiết kế, ông có quyền biết được tất cả những tài liệu hiện có trong phòng và người ta đã giúp ông dễ dàng nắm bắt các ký hiệu tài liệu, sách báo cần thiết cho công việc. Điều đó thật thuận lợi, trong những kệ sách kê thẳng tắp, cao gần đến trần nhà được bố trí dài theo tường, ông tìm được những hồ sơ cần thiết nhất cũng như những cuốn sách đề cập đến điều mình muốn biết. Trong số hồ sơ này có hàng chục cuốn nói về các lĩnh vực vũ khí trang bị trên máy bay, hàng trăm cuốn hướng dẫn thiết kế, chế tạo và sử dụng bom mìn, các loại súng pháo, súng bộ binh.
Ông dành phần lớn tiền lương để mua sách và thường xuyên tới các quán sách cũ tìm tài liệu. Là một kỹ sư làm việc trong phòng thiết kế của một công ty chế tạo máy bay, ông có đầy đủ danh nghĩa để mua các tài liệu mà khi còn là sinh viên không dám hỏi mua. Ông đã tìm được nhiều cuốn sách có giá trị cho bộ sưu tập tài liệu về vũ khí của mình như: Bộ binh thư mới của nước Đức, bộ địa lý chính trị và quân sự của Hao - hốp, các tạp chí về phi cơ dân dụng và phi cơ quân sự, bộ tạp chí chuyên ngành về súng pháo của nước Pháp, tạp chí pháo binh Mỹ, bộ sách về thuốc nổ quân sự, tạp chí súng bộ binh đề cập tới những vấn đề của súng trường, tiểu liên và súng máy… Và ông đã ra công nghiền ngẫm số tài liệu đó đưa vào bộ nhớ của mình, đề phòng nếu thất lạc tài liệu vẫn xoay xở được. Điều lo xa này của ông thật không thừa. Ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, cả tấn sách tài liệu về vũ khí mà ông ky cóp trong hàng chục năm trời ở Pháp chuyển về nước bị thất lạc.
Ngày 20/10/1946, bác Hồ từ Paris trở về nước, ông Phạm Quang Lễ cũng theo Bác trở về tổ quốc sau 11 năm du học.
Xa Tổ quốc 11 năm, về đến Hà Nội chỉ được nghỉ có 07 ngày, ông đã cùng các cộng sự bắt tay vào công việc ngay từ tháng 11/1946. Say mê làm việc đến quên ăn, quên ngủ, nhiều đêm ông chỉ mong cho trời chóng sáng để làm việc, nghiên cứu, thử nghiệm. Bằng trí nhớ của mình, ông cố gắng moi tất cả những kiến thức về vũ khí để kết nối, tính toán lại. Hình ảnh người kỹ sư miệt mài tính toán tốc độ cháy, đốt thử các loại thuốc súng, ngày đêm với cây thước tính trong tay... đã trở nên quá đỗi quen thuộc với các cán bộ chiến khu. Chỉ một sai sót nhỏ sẽ phải trả giá bằng xương thịt của chiến sĩ nơi trận mạc, vì thế trách nhiệm càng đè nặng lên vai ông.
Ngày 05/12/1946 là ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời ông: Bác Hồ đặt cho ông bí danh “Trần Đại Nghĩa” và giao nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục quân giới.
Cuối tháng 02/1947, cuộc thử nghiệm súng Bazôca thành công. Việc một đất nước vừa thoát khỏi cảnh thuộc địa và nửa phong kiến như nước ta đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, thật như huyền thoại và là điều không ngờ của địch. Ông tiếp tục nghiên cứu chế tạo vũ khí hạng nặng, nghiên cứu các loại vũ khí để đối đầu với vũ khí hiện đại của Mỹ (nghiên cứu tìm biện pháp chống nhiễu máy bay B-52). Ông đã làm cho mọi người kể cả thực dân Pháp và đế quốc Mỹ phải nể phục về ý chí tài năng và tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Ông được mệnh danh là “ông vua vũ khí của Việt Nam”. Ông là một nhà yêu nước, nhà khoa học chân chính làm việc không biết mệt mỏi cho đến lúc cuối đời. Ông đã luôn chăm lo, bồi dưỡng và đặt nhiều kỳ vọng vào lớp trí thức trẻ: “Tuổi trẻ thật là quý giá. Khi đã định hướng là khi ta không đánh mất mình trong dòng đời trôi nổi. Tuổi trẻ đủ sức mạnh giúp ta đứng dậy mỗi khi bị sức mạnh phũ phàng đánh ngã. Tuổi trẻ đủ dũng khí vượt lên trên con đường lẻ loi, âm thầm để đi tới tương lai. Tuổi trẻ khát khao tình yêu và cuộc sống, song khi đã có chí hướng, tuổi trẻ lại có thể dồn toàn bộ khát vọng cho tình yêu lớn. Bây giờ tôi muốn nói lại với các con tôi và tất cả các bạn trẻ như vậy. Đó là kinh nghiệm sống của đời tôi”.
Thực hiện theo lời di huấn của Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa, thế hệ trẻ ngày nay nguyện phấn đấu nỗ lực trong học tập và lao động khoa học, cống hiến tài năng, trí tuệ của mình để xây dựng và phát triển tổ quốc ngày càng giàu mạnh, tươi đẹp .
Cuộc đời và sự nghiệp của ông mãi là tấm gương sáng cho thế hệ mai sau noi theo.
Kỷ niệm lần thứ 110 năm ngày sinh của Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa (1913 - 2023), tưởng nhớ đến một nhà khoa học yêu nước, chân chính, đã từng vượt qua cuộc sống đói nghèo, nỗi bất hạnh của thời thơ ấu để trở thành người anh hùng, nhà bác học lỗi lạc bậc nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20.
Nhớ đến ông, chúng ta nhớ đến một hoài bão lớn, một tinh thần say mê nỗ lực trong học tập và lao động khoa học, một niềm tin vô hạn đối với Đảng, đối với Bác Hồ và Nhân dân./.
Đỗ Thạch