Ngày 12/6/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong đó quyết nghị: Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bến Tre, tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Vĩnh Long, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Vĩnh Long.
Ngày 16/6/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1687/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Vĩnh Long năm 2025.
Trên cơ sở Đề án số 337/ĐA-CP ngày 09 tháng 05 năm 2025 của Chính phủ về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Vĩnh Long(mới) năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định sắp xếp để thành lập các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Vĩnh Longnhư sau:
1. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã An Phước (huyện Mang Thít), xã Chánh An và thị trấn Cái Nhum thành xã mới có tên gọi là xã Cái Nhum.
2. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân An Hội, Tân Long và Tân Long Hội thành xã mới có tên gọilà xã Tân Long Hội.
3. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Mỹ An (huyện Mang Thít), Mỹ Phước và Nhơn Phú thành xã mới có tên gọi là xã Nhơn Phú.
4. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Long Mỹ (huyện Mang Thít), Hòa Tịnh và Bình Phước thành xã mới có tên gọi là xã Bình Phước.
5. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Hòa Ninh, Bình Hòa Phước, Đồng Phú và An Bình thành xã mới có tên gọi là xã An Bình.
6. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Long Hồ, xã Long An và xã Long Phước thànhxã mới có tên gọi là xã Long Hồ.
7. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Lộc Hòa, Hòa Phú, Thạnh Quới và Phú Quới thành xã mới có tên gọi là xã Phú Quới.
8. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Thanh Bình và xã Quới Thiện thành xã mới có tên gọi là xã Quới Thiện.
9. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Vũng Liêm, xã Trung Hiếu và xã Trung Thành thành xã mới có tên gọi là xã Trung Thành.
10. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Trung Thành Đông, Trung Nghĩa và Trung Ngãi thành xã mới có tên gọi là xã Trung Ngãi.
11. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Trung Thành Tây, Tân Quới Trung và Quới An thành xã mới có tên gọi là xã Quới An.
12. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân An Luông, Trung Chánh và Trung Hiệp thành xã mới có tên gọi là xã Trung Hiệp.
13. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Hiếu Thuận, Trung An và Hiếu Phụng thànhxã mới có tên gọi là xã Hiếu Phụng.
14. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Hiếu Nhơn, Hiếu Nghĩa và Hiếu Thành thànhxã mới có tên gọi là xã Hiếu Thành.
15. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Phú Thành và xã Lục Sĩ Thành thành xã mới có tên gọi là xã Lục Sĩ Thành.
16. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Tích Thiện và một phần diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Trà Ôn thành xã mới có tên gọi là xã Trà Ôn.
17. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Nhơn Bình, Trà Côn, Tân Mỹ và một phần diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Tam Bìnhthành xã mới có tên gọi là xã Trà Côn.
18.Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Hựu Thành, Thuận Thới và Vĩnh Xuân thành xã mới có tên gọi là xã Vĩnh Xuân.
19. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Xuân Hiệp, Thới Hòa và Hòa Bình thành xã mới có tên gọi là xã Hòa Bình.
20. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Hòa Thạnh, Hòa Lộc và Hòa Hiệp thành xã mới có tên gọi là xã Hòa Hiệp.
21.Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Mỹ Thạnh Trung và phần còn lạicủa thị trấn Tam Bìnhsau khi sắp xếp theo quy định tạikhoản 17 Điều nàythành xã mới có tên gọi là xã Tam Bình.
22. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Loan Mỹ, xã Bình Ninh, một phần diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Ngãi Tứ và phần còn lại của thị trấn Trà Ôn sau khi sắp xếp theo quy định tại khoản 16 Điều này thành xã mới có tên gọi là xã Ngãi Tứ.
23. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân Phú (huyện Tam Bình),Long Phú, Phú Thịnhvà Song Phú thành xã mới có tên gọi là xã Song Phú.
24. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Mỹ Lộc,Tân Lộc, Hậu Lộc và Phú Lộc thành xã mới có tên gọi là xã Cái Ngang.
25. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Tân Bình (huyện Bình Tân), xã Thành Lợi và thị trấn Tân Quới thành xã mới có tên gọi là xã Tân Quới.
26.Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân Thành, Tân An Thạnh và Tân Lược thành xã mới có tên gọi là xã Tân Lược.
27. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Thành Trung, Nguyễn Văn Thảnh và Mỹ Thuận thành xã mới có tên gọi là xã Mỹ Thuận.
28. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Hiệp Thạnh và xã Long Hữu thành xã mới có tên gọi là xã Long Hữu.
29. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Càng Long, xã Mỹ Cẩm và xã Nhị Long Phú thành xã mới có tên gọi là xã Càng Long.
30. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân Bình (huyện Càng Long), An Trường Avà An Trường thành xã mới có tên gọi là xã An Trường.
31. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Huyền Hội và xã Tân An thành xã mới có tên gọi là xã Tân An.
32. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Đại Phước, Đức Mỹ và Nhị Long thành xã mới có tên gọi là xã Nhị Long.
33. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Bình Phú (huyện Càng Long), Đại Phúc và Phương Thạnhthành xã mới có tên gọi là xã Bình Phú.
34. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Châu Thành (huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh) vàcác xã Mỹ Chánh (huyện Châu Thành), Thanh Mỹ, Đa Lộc thành xã mới có tên gọi là xã Châu Thành.
35. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Lương Hòa (huyện Châu Thành), Lương Hòa A và Song Lộc thành xã mới có tên gọi là xã Song Lộc.
36. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Hòa Lợi (huyện Châu Thành), Phước Hảo và Hưng Mỹ thành xã mới có tên gọi là xã Hưng Mỹ.
37. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Cầu Kè, xã Hòa Ân và xã Châu Điền thành xã mới có tên gọi là xã Cầu Kè.
38. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Ninh Thới, Phong Phú và Phong Thạnh thành xã mới có tên gọi là xã Phong Thạnh.
39. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Hòa Tân và xã An Phú Tân thành xã mới có tên gọi là xã An Phú Tân.
40. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Thông Hòa, Thạnh Phú và Tam Ngãi thành xã mới có tên gọi là xã Tam Ngãi.
41. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Tiểu Cần, xã Phú Cần và xã Hiếu Trung thành xã mới có tên gọi là xã Tiểu Cần.
42. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Long Thới (huyện Tiểu Cần), xã Tân Hòa và thị trấn Cầu Quan thành xã mới có tên gọi là xã Tân Hoà.
43. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Ngãi Hùng, Tân Hùng và Hùng Hòa thành xã mới có tên gọi là xã Hùng Hoà.
44. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Hiếu Tử và xã Tập Ngãi thành xã mới có tên gọi là xã Tập Ngãi.
45. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Mỹ Hòa (huyện Cầu Ngang), xã Thuận Hòa và thị trấn Cầu Ngang thành xã mới có tên gọi là xã Cầu Ngang.
46. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Mỹ Long, xã Mỹ Long Bắc và xã Mỹ Long Nam thành xã mới có tên gọi là xã Mỹ Long.
47. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Kim Hòa và xã Vinh Kim thành xã mới có tên gọi là xã Vinh Kim.
48. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Hiệp Hòa, Trường Thọ vàNhị Trường thành xã mới có tên gọi là xã Nhị Trường.
49. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Long Sơn, Hiệp Mỹ Đông và Hiệp Mỹ Tây thành xã mới có tên gọi là xã Hiệp Mỹ.
50. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Trà Cú, xã Ngãi Xuyên và xã Thanh Sơn thành xã mới có tên gọi là xã Trà Cú.
51. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Định An, xã Định An và xã Đại An thành xã mới có tên gọi là xã Đại An.
52. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân của xã An Quảng Hữu và xã Lưu Nghiệp Anh thành xã mới có tên gọi là xã Lưu Nghiệp Anh.
53. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của cácxã Hàm Tân, Kim Sơn và Hàm Giang thành xã mới có tên gọi là xã Hàm Giang.
54. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Ngọc Biên, Tân Hiệp và Long Hiệp thành xã mới có tên gọi là xã Long Hiệp.
55. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân Sơn, Phước Hưng và Tập Sơn thành xã mới có tên gọi là xã Tập Sơn.
56. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Long Thành và xã Long Khánh thành xã mới có tên gọi là xã Long Thành.
57. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Đôn Xuân và xã Đôn Châu thành xã mới có tên gọi là xã Đôn Châu.
58. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Thạnh Hòa Sơn và xã Ngũ Lạc thành xã mới có tên gọi là xã Ngũ Lạc.
59. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Châu Thành(huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre) vàcác xã Tân Thạch, Tường Đa,Phú Túc thành xã mới có tên gọi là xã Phú Túc.
60. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã An Phước (huyện Châu Thành), Quới Sơn và Giao Long thành xã mới có tên gọi là xã Giao Long.
61. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Tiên Thủy, xã Thành Triệu và xã Quới Thành thành xã mới có tên gọi là xã Tiên Thủy.
62. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân Phú (huyện Châu Thành), Tiên Long và Phú Đứcthành xã mới có tên gọi là xã Tân Phú.
63. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Sơn Định, Vĩnh Bình và Phú Phụng thành xã mới có tên gọi là xã Phú Phụng.
64. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Long Thới (huyện Chợ Lách), xã Hòa Nghĩa và thị trấn Chợ Láchthành xã mới có tên gọi là xã Chợ Lách.
65. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xãPhú Sơn, Tân Thiềng và Vĩnh Thành thành xã mới có tên gọi là xã Vĩnh Thành.
66. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Vĩnh Hòa (huyện Chợ Lách), Hưng Khánh Trung A và Hưng Khánh Trung Bthành xã mới có tên gọi là xã Hưng Khánh Trung.
67. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Phước Mỹ Trung và các xã Phú Mỹ, Thạnh Ngãi, Tân Phú Tây thành xã mới có tên gọi là xã Phước Mỹ Trung.
68. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xãTân Bình (huyện Mỏ Cày Bắc),Thành An, Hòa Lộc và Tân Thành Bình thành xã mới có tên gọi là xã Tân Thành Bình.
69. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Khánh Thạnh Tân, Tân Thanh Tây và Nhuận Phú Tân thành xã mới có tên gọi là xã Nhuận Phú Tân.
70. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Định Thủy, Phước Hiệp và Bình Khánh thành xã mới có tên gọi là xã Đồng Khởi.
71. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Mỏ Cày và các xã An Thạnh (huyện Mỏ Cày Nam), Tân Hội, Đa Phước Hộithành xã mới có tên gọi là xã Mỏ Cày.
72. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã An Thới, Thành Thới A và Thành Thới B thành xã mới có tên gọi là xã Thành Thới.
73. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân Trung, Minh Đức và An Địnhthành xã mới có tên gọi là xã An Định.
74. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Ngãi Đăng, Cẩm Sơn và Hương Mỹ thành xã mới có tên gọi là xã Hương Mỹ.
75. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Phú Khánh, Tân Phong, Thới Thạnh và Đại Điền thành xã mới có tên gọi là xã Đại Điền.
76. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Hòa Lợi (huyện Thạnh Phú), Mỹ Hưng và Quới Điền thành xã mới có tên gọi là xã Quới Điền.
77. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Thạnh Phú và các xãAn Thạnh (huyện Thạnh Phú), Bình Thạnh,Mỹ Anthành xã mới có tên gọi là xã Thạnh Phú.
78. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã An Thuận,An Nhơn và An Quithành xã mới có tên gọi là xã An Qui.
79. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã An Điền và xã Thạnh Hải thành xã mới có tên gọi là xã Thạnh Hải.
80. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Giao Thạnh và xã Thạnh Phong thành xã mới có tên gọi là xã Thạnh Phong.
81. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Tiệm Tôm, xã An Hòa Tây và xã Tân Thủy thành xã mới có tên gọi là xã Tân Thủy.
82. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Bảo Thuận và xã Bảo Thạnh thành xã mới có tên gọi là xã Bảo Thạnh.
83. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Ba Tri và các xã Vĩnh Hòa (huyện Ba Tri), An Đức, Vĩnh An,An Bình Tây thành xã mới có tên gọi là xã Ba Tri.
84. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Phú Lễ, Phước Ngãi và Tân Xuân thành xã mới có tên gọi là xã Tân Xuân.
85. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số củaxã Mỹ Hòa và xã Mỹ Chánh (huyện Ba Tri), xã Mỹ Nhơn thành xã mới có tên gọi là xã Mỹ Chánh Hòa.
86. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Mỹ Thạnh (huyện Ba Tri), An Phú Trung và An Ngãi Trung thành xã mới có tên gọi là xã An Ngãi Trung.
87. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân Hưng, An Ngãi Tây và An Hiệp thành xã mới có tên gọi là xã An Hiệp.
88. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân Thanh, Hưng Lễ và Hưng Nhượng thành xã mới có tên gọi là xã Hưng Nhượng.
89. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Giồng Trôm, xã Bình Hòa và xã Bình Thành thành xã mới có tên gọi là xã Giồng Trôm.
90. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Tân Lợi Thạnh, Thạnh Phú Đông và Tân Hàothành xã mới có tên gọi là xã Tân Hào.
91. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Long Mỹ (huyện Giồng Trôm), Hưng Phong và Phước Longthành xã mới có tên gọi là xã Phước Long.
92. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Mỹ Thạnh (huyện Giồng Trôm), Thuận Điềnvà Lương Phúthành xã mới có tên gọi là xã Lương Phú.
93. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Châu Bình, Lương Quới và Châu Hòathành xã mới có tên gọi là xã Châu Hòa.
94. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Lương Hòa (huyện Giồng Trôm) và xã Phong Nẫmthành xã mới có tên gọi là xã Lương Hòa.
95. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Thừa Đứcvà xã Thới Thuận thành xã mới có tên gọi là xã Thới Thuận.
96. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Đại Hòa Lộc và xã Thạnh Phước thành xã mới có tên gọi là xã Thạnh Phước.
97. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Bình Đại, xã Bình Thới và xã Bình Thắng thành xã mới có tên gọi là xã Bình Đại.
98. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Định Trung, Phú Long và Thạnh Trịthành xã mới có tên gọi là xã Thạnh Trị.
99. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Vang Quới Đông, Vang Quới Tây và Lộc Thuậnthành xã mới có tên gọi là xã Lộc Thuận.
100. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Long Hòa (huyện Bình Đại), Thới Laivà Châu Hưngthành xã mới có tên gọi là xã Châu Hưng.
101. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Long Định, Tam Hiệp và Phú Thuậnthành xã mới có tên gọi là xã Phú Thuận.
102. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 5 (thành phố Vĩnh Long) và xã Thanh Đức thành phường mới có tên gọi là phường Thanh Đức.
103. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 1 và Phường 9 (thành phố Vĩnh Long), phường Trường Anthành phường mới có tên gọi là phường Long Châu.
104. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 3 và Phường 4 (thành phố Vĩnh Long), xã Phước Hậu thành phường mới có tên gọilàphường Phước Hậu.
105. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 8(thành phố Vĩnh Long) và xã Tân Hạnh thành phường mới có tên gọi làphường Tân Hạnh.
106. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các phường Tân Hòa, Tân Hội và Tân Ngãi thành phường mới có tên gọi làphường Tân Ngãi.
107. Sắp xếp toàn bộ xã Thuận An và một phần diện tích tự nhiên, quy mô dân số phường Thành Phước, phường Cái Vồn thành phường mới có tên gọi là phường Bình Minh.
108. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số xã Mỹ Hòa (thị xã Bình Minh), phần còn lại của xã Ngãi Tứ sau khi sắp xếp theo quy định tại khoản 22 Điều này và phần còn lại của phường Thành Phước, phường Cái Vồn sau khi sắp xếp theo quy định tại khoản 107 Điều này thành phường mới có tên gọi là phường Cái Vồn.
109. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của phường Đông Thuận và các xã Đông Bình, Đông Thạnh, Đông Thành thành phường mới có tên gọi là phường Đông Thành.
110. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 1, Phường 3 và Phường 9 (thành phố Trà Vinh)thànhphường mới có tên gọi là phường Trà Vinh.
111. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 4 (thành phố Trà Vinh) và xã Long Đứcthành phường mới có tên gọi là phường Long Đức.
112. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 7 và Phường 8(thành phố Trà Vinh), xã Nguyệt Hóa thành phường mới có tên gọi là phường Nguyệt Hoá.
113. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 5(thành phố Trà Vinh) và xã Hòa Thuận thành phường mới có tên gọi là phường Hoà Thuận.
114. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 1(thị xã Duyên Hải), xã Long Toàn và xã Dân Thànhthànhphường mới có tên gọi là phường Duyên Hải.
115. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 2 (thị xã Duyên Hải) và xã Trường Long Hòa thành phường mới có tên gọi là phường Trường Long Hoà.
116. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của phường An Hội vàcác xã Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Sơn Phú thành phường mới có tên gọi là phường An Hội.
117. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 8(thành phố Bến Tre), phường Phú Khương, xã Phú Hưng và xã Nhơn Thạnhthành phường mới có tên gọi là phường Phú Khương.
118. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 7 và xã Bình Phú(thành phố Bến Tre), xã Thanh Tânthành phường mới có tên gọi là phường Bến Tre.
119. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Phường 6, xã Sơn Đôngvà xã Tam Phướcthành phường mới có tên gọi là phường Sơn Đông.
120. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của phường Phú Tân, xã Hữu Định và xã Phước Thạnh thành phường mới có tên gọi là phường Phú Tân.
121. Sau khi sắp xếp, tỉnh Vĩnh Long có 124 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 105 xã và 19 phường; trong đó có 101 xã, 19 phường hình thành sau sắp xếp quy định tại Điều này và 04 xã không thực hiện sắp xếp là các xã Long Hòa (huyện Châu Thành), Đông Hải, Long Vĩnh, Hòa Minh.
* Lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Vĩnh Long:
Vùng đất Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre ngày nay là bộ phận quan trọng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - vùng đất được bồi đắp bởi phù sa màu mỡ của hệ thống sông Tiền, sông Hậu và biển Đông qua hàng nghìn năm lịch sử. Trải qua quá trình hình thành, khai phá, đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng quê hương, ba địa phương đã tạo nên những giá trị lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng đặc sắc, góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam.
Theo các tài liệu khảo cổ học và thư tịch cổ, vùng đất Nam Bộ nói chung và khu vực Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre nói riêng từng thuộc phạm vi ảnh hưởng của vương quốc Phù Nam từ đầu Công nguyên. Sau khi Phù Nam suy yếu và bị Chân Lạp thôn tính vào khoảng thế kỷ VII, vùng đất này dần trở nên hoang vu, dân cư thưa thớt.
Từ đầu thế kỷ XVII, cùng với tiến trình mở cõi phương Nam của dân tộc Việt Nam, nhiều lớp lưu dân người Việt từ miền Trung, miền Bắc theo các tuyến đường thủy và đường biển vào khai phá vùng đất Nam Bộ. Cùng với người Việt, người Khmer và người Hoa cũng đến sinh sống, cộng cư lâu đời, tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng, phong phú và giàu tính nhân văn của vùng đất này.
Trong quá trình khai phá vùng đất mới, các chúa Nguyễn từng bước thiết lập hệ thống quản lý hành chính nhằm ổn định dân cư, phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Sau khi đặt phủ Gia Định năm 1698, đến năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Trú thành lập dinh Long Hồ. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng đối với vùng đất Vĩnh Long và khu vực Tây Nam Bộ.
Trong khi đó, vùng đất Trà Vinh lúc bấy giờ thuộc phủ Lạc Hóa của tỉnh Vĩnh Long dưới thời nhà Nguyễn, với tên gọi ban đầu là Trà Vang. Bến Tre được hình thành trên ba dải cù lao lớn là cù lao Minh, cù lao Bảo và cù lao An Hóa do phù sa của các con sông Tiền, Hàm Luông, Cổ Chiên và Ba Lai bồi đắp qua nhiều thế kỷ.
Đến đầu thế kỷ XIX, sau khi thống nhất đất nước, triều Nguyễn tiến hành cải cách hành chính. Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn Vĩnh Thanh thành tỉnh Vĩnh Long, đánh dấu tên gọi “Vĩnh Long” chính thức được xác lập trong hệ thống hành chính quốc gia. Dưới triều Nguyễn, vùng đất Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre tiếp tục phát triển mạnh về nông nghiệp và thương mại.
Không chỉ giàu tiềm năng kinh tế, vùng đất này còn nổi bật với truyền thống hiếu học, trọng nghĩa tình và giàu bản sắc văn hóa. Trong lịch sử khoa bảng Nam Bộ thời Nguyễn, Bến Tre là địa phương có số lượng cử nhân, tiến sĩ chỉ đứng sau Gia Định. Nhiều nhân vật nổi tiếng của lịch sử, văn hóa dân tộc gắn bó với vùng đất này như: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng,… Các giá trị văn hóa truyền thống cùng tinh thần yêu nước đã trở thành nền tảng quan trọng cho các phong trào đấu tranh cách mạng về sau.
Giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp đẩy mạnh xâm lược Việt Nam, Nhân dân Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre đã phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, đoàn kết đứng lên chống giặc ngoại xâm. Năm 1862, sau khi đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, thực dân Pháp tấn công Vĩnh Long với lực lượng lớn. Mặc dù thành Vĩnh Long thất thủ, nhưng tại nhiều nơi trong tỉnh, Nhân dân đã tự đứng ra tổ chức lực lượng dân dũng để bảo vệ quê hương. Đến năm 1867, thực dân Pháp tiếp tục đánh chiếm Vĩnh Long, Trà Vinh và toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh.
Ngay sau khi thực dân Pháp chiếm đóng, Nhân dân ba tỉnh đã liên tiếp đứng lên đấu tranh bằng nhiều hình thức phong phú và quyết liệt. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm lãnh đạo, nổ ra ở vùng Hoằng Trị (Bến Tre) vào tháng 8/1867, lan rộng đến Định Tường, Vĩnh Long; cuộc khởi nghĩa Hương Điền - Trà Ôn do Phó soái An chỉ huy vào tháng 10/1867; cuộc khởi nghĩa Ba Động vào tháng 3/1868, do Tán Lý, Lê Quang Quan (Tán Kế), Đề đốc Triệu và Đốc binh Say lãnh đạo; cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Long, An Giang vào mùa thu 1872 do Lê Công Thành, Lâm Lễ, Âu Dương Lâm lãnh đạo. Đặc biệt, cuộc khởi nghĩa Vĩnh Trị (Vũng Liêm) vào năm 1872 do Đốc binh Lê Cẩn, Nguyễn Giao và Phó Mai lãnh đạo diễn ra tại Cầu Vông,… cùng nhiều phong trào yêu nước khác.
Tại Bến Tre, nhiều sĩ phu yêu nước như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị dùng thơ văn làm vũ khí cổ vũ tinh thần yêu nước và chống thực dân Pháp. Các phong trào đấu tranh tuy lần lượt bị đàn áp nhưng đã thể hiện khí phách bất khuất của Nhân dân Nam Kỳ và góp phần nuôi dưỡng tinh thần dân tộc.
Đầu thế kỷ XX, cùng với phong trào yêu nước cả nước, tại Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre xuất hiện nhiều hoạt động cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản và vô sản. Đặc biệt, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, tư tưởng cách mạng vô sản dần được truyền bá mạnh mẽ vào địa phương, tác động sâu sắc đến thanh niên, trí thức và công nhân.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930, phong trào cách mạng tại ba tỉnh bước sang giai đoạn phát triển mới. Ở Vĩnh Long, tháng 3/1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh được thành lập tại Ngã tư Long Hồ. Đến tháng 02/1931, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long được thành lập, do đồng chí Ngô Văn Chính làm Bí thư.
Ở Trà Vinh, cuối tháng 02/1930, thực hiện sự phân công của Xứ ủy Nam Kỳ, các đồng chí Ung Văn Khiêm và Dương Quang Đông được cử về Trà Vinh để trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng tổ chức Đảng. Trong bối cảnh phong trào yêu nước của Nhân dân Trà Vinh đang phát triển mạnh, ba chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập gồm: chi bộ Mỹ Long, chi bộ An Trường và chi bộ tỉnh lỵ Trà Vinh. Đến giữa năm 1930, toàn tỉnh đã có thêm nhiều chi bộ mới được thành lập, tạo tiền đề cho sự ra đời của Tỉnh ủy Trà Vinh vào mùa thu năm 1930, do đồng chí Huỳnh Ngọc Trảng làm Bí thư.
Ở Bến Tre, cuối tháng 4/1930, chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được thành lập gồm 11 đảng viên do đồng chí Trần Văn An làm Bí thư. Đây là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử cách mạng của tỉnh, mở đầu cho quá trình lãnh đạo phong trào đấu tranh của Đảng bộ Bến Tre. Đến tháng 5/1931, Tỉnh ủy Bến Tre được thành lập, do đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn làm Bí thư.
Với sự thành lập của các chi bộ rồi Đảng bộ ở Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre, đã đánh dấu bước trưởng thành của phong trào cách mạng địa phương và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phong trào đấu tranh của Nhân dân.
Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, Nhân dân Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre đã đồng loạt nổi dậy giành chính quyền thắng lợi.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Đảng bộ và Nhân dân ba tỉnh bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp với tinh thần kiên cường, bất khuất. Năm 1951, Vĩnh Long và Trà Vinh được sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Trà nhằm đáp ứng yêu cầu kháng chiến. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, quân và dân địa phương đã xây dựng căn cứ cách mạng, phát triển chiến tranh du kích, phối hợp với các chiến trường Nam Bộ, góp phần cùng cả nước làm nên thắng lợi Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ năm 1954.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam. Trước tình hình đó, Đảng bộ các địa phương kiên trì lãnh đạo Nhân dân đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, xây dựng và bảo vệ cơ sở cách mạng. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) ra đời đã mở đường cho cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công.
Năm 1960, phong trào Đồng khởi bùng nổ mạnh mẽ ở Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long, góp phần làm tan rã hệ thống chính quyền cơ sở của Mỹ - Diệm ở nhiều vùng nông thôn. Đặc biệt, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre diễn ra mạnh mẽ với phương châm “hai chân, ba mũi”, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và binh vận. Chỉ trong thời gian ngắn, hệ thống chính quyền cơ sở của địch ở nhiều nơi bị tan rã, nhiều vùng nông thôn được giải phóng. Qua các đợt Đồng khởi, Bến Tre đã giải phóng hoàn toàn 51 xã, giải phóng một phần 21 xã, phá rã hệ thống kìm kẹp của địch ở nông thôn và xây dựng chính quyền cách mạng của Nhân dân. Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre không chỉ có ý nghĩa đối với địa phương mà còn mở ra cao trào cách mạng trên toàn miền Nam, đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, quân và dân Vĩnh Long đồng loạt tiến công vào các cơ quan đầu não của địch, làm chủ thị xã Vĩnh Long trong 06 ngày đêm liền, tiêu diệt sân bay Vĩnh Long, làm chủ bến phà Mỹ Thuận, cắt đứt giao thông trên Quốc lộ 4 (nay là Quốc lộ 1A suốt 22 ngày). Ở Trà Vinh, quân và dân toàn tỉnh đồng loạt tiến công vào nhiều vị trí quan trọng của địch. Tỉnh Trà Vinh vinh dự được Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tặng Huân chương Thành đồng hạng Nhất và lá cờ vẻ vang với 08 chữ vàng “Toàn dân nổi dậy, đoàn kết lập công”.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, Bến Tre được chọn là một trong những địa bàn trọng điểm của Quân khu 8. Đêm 31/01/1968, quân và dân Bến Tre đồng loạt tiến công vào thị xã và các cơ quan đầu não của địch. Trong năm 1968, quân dân Bến Tre đã tiêu diệt và làm tan rã hàng chục nghìn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, giải phóng thêm nhiều vùng nông thôn. Với những chiến công xuất sắc đó, Bến Tre được Bộ Chỉ huy Miền tặng thưởng cờ danh dự mang dòng chữ “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ, diệt ngụy”.
Từ năm 1969 đến 1975, quân và dân địa phương tiếp tục kiên cường bám đất, bám dân, phát triển phong trào cách mạng, mở rộng vùng giải phóng và chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công cuối cùng. Mùa Xuân năm 1975, hưởng ứng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre đồng loạt nổi dậy tiến công địch. Đến ngày 30/4 tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long được giải phóng và ngày 01/5/1975 tỉnh Bến Tre được giải phóng, góp phần cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất đất nước.
Sau ngày đất nước thống nhất, Đảng bộ và Nhân dân ba tỉnh bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội. Năm 1976, thực hiện chủ trương của Trung ương, tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh hợp nhất thành tỉnh Cửu Long.
Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, các địa phương từng bước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng giao lưu kinh tế và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Năm 1992, tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh được tái lập. Sau khi tái lập tỉnh, Đảng bộ và Nhân dân các địa phương tập trung phát triển nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ, đầu tư kết cấu hạ tầng và chăm lo các lĩnh vực văn hóa - xã hội.
Trong quá trình đổi mới và hội nhập, cả ba tỉnh đều đạt nhiều thành tựu quan trọng. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định theo hướng hàng hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu. Bến Tre phát triển mạnh kinh tế dừa, kinh tế biển, năng lượng tái tạo và du lịch sinh thái; Trà Vinh chú trọng phát triển kinh tế biển, năng lượng sạch và chăm lo đời sống đồng bào Khmer; Vĩnh Long phát triển nông nghiệp công nghệ cao, thương mại, dịch vụ và công nghiệp chế biến.
Song song với phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội đạt nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống trường học, cơ sở y tế, giao thông, điện, nước được đầu tư đồng bộ; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng cao…
Bước vào giai đoạn 2020 - 2025, mặc dù chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, thiên tai và đại dịch Covid-19, Đảng bộ và Nhân dân ba tỉnh vẫn đoàn kết vượt qua khó khăn, duy trì tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và xây dựng nông thôn mới.
* Ngày 12/4/2025, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII thống nhất chủ trương sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và mở rộng không gian phát triển. Thực hiện chủ trương này, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, theo đó hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của ba tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre thành tỉnh mới mang tên Vĩnh Long.
Bản đồ chi tiết 124 xã, phường tỉnh Vĩnh Long sau sáp nhập.
Tỉnh Vĩnh Long mới có diện tích tự nhiên hơn 6.296 km², dân số 3.386.100 người, trở thành địa phương có quy mô lớn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, vừa có biển, vừa có hệ thống sông ngòi thuận lợi, tạo điều kiện phát triển kinh tế biển, logistics, nông nghiệp sinh thái, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo và du lịch.
Ngày 01/7/2025, chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào hoạt động. Tỉnh nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm hoạt động hành chính thông suốt, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.
Thực hiện Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 14/4/2025 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 04 - KH/TU, ngày 11/7/2025 của Tỉnh ủy Vĩnh Long, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ I (nhiệm kỳ 2025 - 2030) diễn ra trong hai ngày, từ ngày 02 - 03/10.
Đại hội thảo luận và quyết định nhiều nội dung quan trọng, trong đó Đại hội đề ra 31 chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng. Thực hiện 06 nhiệm vụ trọng tâm, 03 đột phá chiến lược. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của Đảng bộ tỉnh, mở ra một giai đoạn mới đầy triển vọng để tỉnh Vĩnh Long vươn mình phát triển.
Tại Đại hội, đã công bố quyết định của Bộ Chính trị về chỉ định nhân sự trong đó: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 có 83 đồng chí; Ban Thường vụ Tỉnh ủy có 24 đồng chí; đồng chí Trần Văn Lâu, giữ chức danh Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long.
Đồng chí Lê Minh Trí, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, trao quyết định của Bộ Chính trị chỉ định Bí thư, các Phó Bí thư cùng Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ I (nhiệm kỳ 2025 - 2030). Ảnh: Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long
Việc hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Long mới không chỉ là bước đi phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới mà còn mở ra không gian phát triển rộng lớn hơn, tạo điều kiện phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương. Phát huy truyền thống cách mạng, tinh thần Đồng khởi, ý chí đoàn kết và khát vọng vươn lên, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Vĩnh Long quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, phát triển nhanh và bền vững, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.